Truy cập

Hôm nay:
160
Hôm qua:
66
Tuần này:
160
Tháng này:
160
Tất cả:
138998

Ý kiến thăm dò

Thành tựu

Ngày 30/10/2020 08:40:35

Thành tựu

ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT

ĐẠI HỘI ĐẢNG BỘ XÃ LẦN THỨ XXIX (Nhiệm kỳ 2015-2020)

Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Thăng Bình thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ XXIX, nhiệm kỳ 2015 – 2020 trong điều kiện chính trị xã hội ổn định; đoàn kết trong Đảng được giữ vững, sự đồng thuận trong nhân dân được tăng cường; nhiều chủ trương, chính sách, cơ chế của Đảng và nhà nước, của tỉnh, huyện được ban hành tạo điều kiện cho xã có thêm nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội. Kinh nghiệm lãnh đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể ngày càng được tích lũy; tuyến đường tỉnh lộ 506 đi qua mở ra nhiều cơ hội cho sự phát triển kinh tế, văn hóa xã hội.

Bên cạnh những thuận lợi, chúng ta gặp khó khăn, thách thức như: thời tiết, lũ lụt, dịch bệnh trên người, trong chăn nuôi xảy ra và diễn biến phức tạp, khó lường, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống và sản xuất của nhân dân; nông nghiệp còn độc canh; ngành nghề công, nghiệp tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ còn nhỏ lẻ, manh mún; xây dựng nông thôn mới còn lại những tiêu chí đòi hỏi nhiều nguồn lực; trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành có việc hiệu quả chưa cao.

Song, được sự quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo của huyện; Đảng bộ, chính quyền và nhân dân trong xã đã đoàn kết, vượt qua khó khăn, bám sát chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước; phát huy sức mạnh của cả thệ thống chính trị, tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ xã lần thứ XXIX đạt kết quả khá toàn diện; có 24/28 chỉ tiêu đạt và vượt kế hoạch. Cụ thể như sau:

A. NHỮNG KẾT QUẢ ĐÃ ĐẠT ĐƯỢC.

I. VỀ KINH TẾ - XÃ HỘI, QUỐC PHÒNG AN NINH.

1. Kinh tế tăng trưởng khá; cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng; kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được tăng cường; xây dựng NTM được tập trung chỉ đạo.

Tổng giá trị sản xuất các ngành kinh tế ước đạt 317,88 tỷ đồng, tăng 1,28 lần chỉ tiêu ĐH. Cơ cấu giá trị sản xuất chuyển dịch theo hướng tích cực: ngành Nông, lâm, thủy sản chiếm 21,6% giảm 18,5% so với năm 2015; Công nghiệp - TTCN và XD chiếm 45,7% tăng 6,8% so với năm 2015; Thương mại - dịch vụ và thu khác chiếm 32,9% tăng 11,7% so với năm 2015; (chỉ tiêu đại hội: NN 27.5 %; CN - XD 32.2 %; TMDV 40.2 %).

Thu nhập bình quân đầu người ước đạt 46 triệu/năm, tăng 2,04 lần so với năm 2015, vượt 1,27% lần chỉ tiêu ĐH

1.1. Sản xuất nông - lâm - thủy sản tăng trưởng khá, giá trị sản xuất ước đạt 68,83 tỷ đồng, tăng 5.89% chỉ tiêu ĐH.

BCH Đảng bộ tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng, đưa các loại giống cây trồng có năng xuất cao, ứng dụng và chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ thuật, đưa cơ giới hóa vào sản xuất; trên địa bàn xã18,3% hệ thống giao thông và 54,03% kênh mương nội đồng được bê tông hóa, 70,1% đường giao thông nội đồng được cứng hóa, đảm bảo phục vụ sản xuất và tưới tiêu; thực hiện tích tụ đất đai để sản xuất quy mô lớn được 4 ha; chuyển đổi 2 ha diện tích đất trồng lúa kém hiệu quả sang cây trồng khác có giá trị kinh tế cao như cây ớt, cây ngô. Năng xuất lúa bình quân hằng năm đạt 60 tạ/ha, đạt chỉ tiêu ĐH, tổng sản lượng lương thực ước đạt 5.165,5 tấn/năm đạt 98,3% mục tiêu đại hội. Giá trị sản xuất ngành trồng trọt ước đạt 53,42 tỷ đồng tăng 4,5 lần so với năm 2015, đạt 82,1 % chỉ tiêu đại hội.

Chăn nuôi tiếp tục phát triển, đến nay đàn trâu, bò 850 con, đạt chỉ tiêu đại hội; đàn lợn 2500 con tăng 500 con so với chỉ tiêu đại hội; đàn gia cầm 110.000 nghìn con, tăng 1,1 lần so với chỉ tiêu đại hội. Giá trị sản xuất ngành chăn nuôi ước đạt 7 tỷ đồng, tăng 1,5 lần so với năm 2015, vượt 16,6 % chỉ tiêu đại hội.

Nuôi trồng thủy sản tiếp tục được quan tâm, tổng diện tích 10 ha nuôi cá, kết hợp đánh bắt tự nhiên mỗi năm ước đạt 130 tấn, giá trị ước đạt 7,15 tỷ đồng.

Làm tốt công tác bảo vệ rừng, duy trì quản lý tốt 186,38 ha rừng, tỷ lệ che phủ rừng đạt 15,76% (100%); gắn phát triển rừng với phát triển cây công nghiệp, cây ăn quả và phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm.

1.2. Tiểu thủ công nghiệp và XDCB tăng trưởng mạnh, giá trị ước đạt 145,23 tỷ đồng, tăng 52,3% chỉ tiêu ĐH.

Tiểu thủ công nghiệp: Được duy trì và có bước tăng trưởng khá, phát triển đa dạng, ngành nghề như: đan đèn lồng xuất khẩu, cơ khí, mộc dân dụng, sản xuất vật liệu xây dựng, gò hàn giải quyết việc làm cho khoảng 295 lao động, nâng cao thu nhập và ổn định đời sống cho nhân dân.

Xây dựng cơ bản: Được tập trung vào các công trình hạ tầng kỹ thuật, giao thông như: xây dựng nhà lớp học, sửa chữa bếp ăn, lát sân và các công trình phụ trợ khác trường Mầm non; các công trình phụ trợ của trường Tiểu học và THCS; xây dựng kênh mương tuyến Đồng bái đi thôn Lý Đông và N13 đi thôn Mỹ Giang. Tổng vốn đầu tư xây dựng 8,5 tỷ đồng, trong đó nguồn vốn của tỉnh, huyện 2,4 tỷ đồng, vốn ngân sách xã 4,3 tỷ đồng, vốn huy động đóng góp khu dân cư và từ các tổ chức cá nhân khác 1,8 tỷ đồng; lắp thêm 03 trạm biến áp, đường dây truyền tải điện.

1.3. Hoạt động dịch vụ thương mại và thu khác, ước đạt 103,82 tỷ đồng, tăng 9,28% chỉ tiêu ĐH, gấp 2 lần so với năm 2015.

Các hoạt động dịch vụ thương mại, vận tải phát triển mạnh, toàn xã có 310 hộ sản xuất, kinh doanh. Số lao động được giải quyết việc làm mới hàng năm đạt trên 120 người/năm, vượt 1,2 % so với chỉ tiêu Đại hội, số lao động xuất khẩu đi các nước 90 người có mức thu nhập bình quân 25 đến 30 triệu đồng/người/tháng, số lao động đi làm các ngành nghề ngoài địa phương khoảng 1.862 người, có mức thu nhập từ 5,5 đến 6 triệu đồng/ tháng; Dịch vụ bưu chính viễn thông phát triển đến hầu hết các khu dân cư đáp ứng nhu cầu thông tin của nhân dân, đến nay 100 % số hộ có phương tiện nghe, nhìn, 60% hộ có mạng Intenert. Hệ thống điện đảm bảo chất lượng trong phục vụ sinh hoạt, sản xuất và kinh doanh của nhân dân.

Thu, chi ngân sách trên địa bàn được tổ chức thực hiện hiệu quả, đảm bảo đúng quy định, đáp ứng nhu cầu hoạt động thườngxuyên và đầu tư hạ tầng xây dựng nông thôn mới. Tổng thu ngân sách giai đoạn 2015 – 2019, tăng gấp 1,8 lần so với giai đoạn 2010 – 2015.

Hoạt động của các tổ chức tín dụng mang lại nhiều hiệu quả, đáp ứng nguồn vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh của các hộ dân và doanh nghiệp, đến nay tổng dư nợ là 37 tỷ đồng. Trong đó: ngân hàng CSXH 11,5 tỷ đồng, ngân hàng thương mại là 23,4 tỷ đồng; tài chính vi mô: 2,1 tỷ đồng.

1.4. Công tác quy hoạch, quản lý đất đai và bảo vệ môi trường.

Công tác quy hoạch, quản lý quy hoạch quản lý tài nguyên, đất đai được quan tâm chỉ đạo thực hiện; lập quy hoạch phát triển khu dân cư mới được thực hiện đúng quy định của pháp luật, tình trạng lấn chiếm đất đai được xử lý kịp thời. Thực hiện tốt việc cấp giấy chứng nhận QSD đất cho nhân dân, tỉ lệ cấp mới đạt 88%, cấp đổi đạt 60%.

Công tác quản lý về môi trường được tăng cường, 100% hộ dân thực hiện thu gom và được vận chuyển về bãi rác Hồ Mơ xử lý; thường xuyên tổ chức phát động phong trào trồng cây xanh tại các trường học, trồng hoa bên các tuyến đường thôn, đường xã; 90% hộ có nhà tiêu hợp vệ sinh; 100% hộ được dùng nước hợp vệ sinh.

1.5. Các thành phần kinh tế góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế, đảm bảo ổn định xã hội.

Hoạt động của các thành phần kinh tế đã góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế, toàn xã có 02 doanh nghiệp đang hoạt động, tăng 01 doanh nghiệp so với năm 2015, đạt 40% so với chỉ tiêu Đại hội;310 hộ sản xuất kinh doanh cá thể; 01 HTX dịch vụ Nông Nghiệp; trên địa bàn xã có 02 trang trại, 15 gia trại chăn nuôi gia súc, gia cầm tăng 2,5 lần so với năm 2015

1.6. Xây dựng nông thôn mới, xây dựng xã đạt tiêu chí xã an toàn thực phẩm.

Thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, Đảng bộ đã ban hành nghị quyết để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo; tổ chức thực hiện có hiệu quả Pháp lệnh số 34, tranh thủ tối đa sự lãnh đạo, hỗ trợ của huyện, tỉnh, phấn đấu năm 2020 hoàn thành 19/19 tiêu chí NTM.

Thực hiện Nghị quyết số 04-NQ/TU của BCH Đảng bộ tỉnh, Quyết định số 347/QĐ-UBND của UBND huyện về Kế họach xây dựng xã, thị trấn đạt tiêu chí an toàn thực phẩm đến năm 2020, BCH đã tập trung chỉ đạo tổ chức triển khai thực hiện, làm tốt công tác tuyên truyền với nhiều hình thức, nhằm phổ biến kiến thức về vệ sinh an toàn thực phẩm cho nhân dân, hướng dẫn các hộ sản xuất, kinh doanh thực hiện các quy định về xác nhận nguồn gốc xuất sứ hàng hóa, trong quá trình thực hiện được nhân dân đồng tình hưởng ứng, phấn đấu năm 2020 xã được công nhận đạt tiêu chí an toàn thực phẩm.

2. Văn hóa - xã hội có nhiều chuyển biến tích cực, các chính sách an sinh xã hội được quan tâm, đời sống vật chất tinh thần của nhân dân được nâng lên.

2.1. Hoạt động văn hóa, thông tin, tuyên truyền - thể dục thể thao.

Công tác thông tin, tuyên truyền luôn được quan tâm, tập trung tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các ngày lễ lớn, ngày kỷ niệm và các nhiệm vụ trọng tâm của địa phương đến với nhân dân.

Triển khai vận động nhân dân hưởng ứng thực hiện tốt phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh ", đến nay 5/7 làng được công nhận làng văn hóa, 3/3 trường được công nhận trường học có đời sống văn hóa tốt, tỷ lệ gia đình đạt danh hiệu gia đình văn hóa đạt 90%, tăng 5% so với chỉ tiêu đại hội. Thực hiện tốt nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội và một số nghi lễ ở cộng đồng dân cư theo tinh thần Nghị quyết 07-NQ/HU của BCH đảng bộ huyện. Làm tốt công tác quản lý lễ hội trên địa bàn.

Phong trào TDTT quần chúng được tổ chức thường xuyên và sâu rộng như: bóng chuyền, cầu lông, bóng bàn. Số người thường xuyên tham gia luyện tập TDTT đạt trên 45%. Các hoạt động văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao, lễ hội hàng năm đều được duy trì và đổi mới đảm bảo vui tươi an toàn tiết kiệm.

2.2. Về giáo dục và đào tạo.

Trong nhiệm kỳ qua Đảng bộ và nhân dân đã tập trung nguồn lực đầu tư cơ sở vật chất các trường, đến nay 2/3 trường đạt chuẩn quốc gia, trong đó trường Tiểu học được công nhận chuẩn mức độ II, kiểm định chất lượng mức độ 3, đạt đơn vị kiểu mẫu. Chất lượng giáo dục toàn diện và giáo dục mũi nhọn hàng năm được nâng cao, trường Tiểu học và THCS đều có học sinh, giáo viên đạt các giải Quốc gia, giải tỉnh, giải huyện; phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi 100%; hoàn thành phổ cập giáo dục Tiểu học, THCS; tỷ lệ tốt nghiệp THCS đạt 100 %; có 154 em học sinh đậu vào các trường Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp.

Công tác khuyến học từ xã đến thôn được quan tâm, xây dựng quỹ khuyến học được 366 triệu đồng để động viên con em tích cực học tập. Trung tâm học tập cộng đồng hàng năm tổ chức nhiều lớp chuyển giao khoa học kỹ thuật, tuyên truyền phổ biến pháp luật đến với cán bộ và nhân dân, được công nhận Danh hiệu học tập cộng đồng cấp xã, hoàn thành chỉ tiêu đại hội, từng bước thực hiện tốt chủ trương xây dựng xã hội học tập.

2.3. Công tác y tế và dân số kế hoạch hóa gia đình.

Thực hiện tốt công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân, phòng chống dịch bệnh. Thực hiện tốt các chương trình y tế quốc gia về tiêm chủng mở rộng, 100 % trẻ em trong độ tuổi được uống vitaminA và tiêm đầy đủ các loại vác xin thuộc chương trình tiêm chủng. Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng thể cân nặng 11,2 %, suy dinh dưỡng thể thấp còi 19,9 %. Tỷ lệ người dân tham gia BHYT đạt 79%. Phối hợp thực hiện tốt công tác kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh môi trường và vệ sinh phòng dịch. Xã được công nhận xã đạt bộ tiêu chí quốc gia về y tế. Công tác dân số kế hoạch hóa gia đình được chú trọng, tích cực tuyên truyền về dân số, sức khỏe sinh sản, thực hiện chính sách KHHGĐ, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên bình quân là 0,7%.

2.4. Việc thực hiện chính sách an sinh xã hội, giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo

Các chế độ chính sách cho người có công, gia đình chính sách, đối tượng bảo trợ xã hội, được thực hiện đầy đủ, kịp thời, không để sai sót; các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, nhân đạo, từ thiện được quan tâm và thực hiện kịp thời. Thực hiện chế độ chính sách theo Quyết định số 49/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ cho 546/636 đối tượng đã được hưởng chế độ; Quyết định số 22/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về hỗ trợ người có công sửa chữa, làm mới nhà ở cho 36 hộ, với số tiền là 1.040 tỷ đồng, hoàn thành 100% số đối tượng thuộc diện hỗ trợ; Quyết định 62/2011/QĐ-TTg cho 9 hồ sơ, 4 hồ sơ đã nhận quyết định trợ cấp 1 lần với tổng kinh phí là 21,5 triệu đồng.

Công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo luôn được quan tâm, trong 5 năm đã mở được 05 lớp đào tạo nghề cho hơn 200 lượt người, cử 25 lượt người tham gia các lớp đào tạo, bồi dưỡng kiến thức quản lý doanh nghiệp; đã tạo việc làm mới, ổn định cho 600 lao động; cùng với 1.952 lao động đi làm ăn xa, trong đó có 90 lao động ở nước ngoài; tiếp nhận triển khai dự án, các nguồn hỗ trợ đã góp phần xóa đói, giảm nghèo, tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 6,5% năm 2015 xuống còn 2,5% năm 2020.

3. Công tác quốc phòng được tăng cường; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo.

Công tác quốc phòng luôn được quan tâm, hằng năm triển khai thực hiện tốt nhiệm vụ quốc phòng, xây dựng kế hoạch nhiệm vụ quân sự địa phương, tổ chức thực hiện tốt công tác huấn luyện, diễn tập theo quy định; rà soát, nắm chắc quân số, xây dựng kế hoạch tuyển quân hàng năm, gọi khám tuyển nghĩa vụ quân sự công khai, đúng đối tượng, trong 5 năm đã có 49 thanh niên lên đường nhập ngũ, hoàn thành 100% chỉ tiêu; thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội.

Tập trung lãnh đạo công tác an ninh trật tự, Ban chỉ đạo ANTT xã hoạt động có hiệu quả, huy động được sức mạnh của hệ thống chính trị tham gia công tác bảo đảm an ninh trật tự. Lực lượng công an xã, tổ an ninh trật tự thường xuyên tuần tra, kiểm tra, nắm chắc tình hình an ninh trật tự, tư tưởng trong nhân dân, thường xuyên thông tin đến người dân các hành vi, hình thức của các loại tội phạm trộm cắp để phòng ngừa. Các vụ việc xảy ra trên địa bàn đều được tập trung giải quyết dứt điểm không có vụ việc tồn đọng, không có vụ án đặc biệt nghiêm trọng xảy ra; 7/7 thôn được công nhận đạt tiêu chuẩn về an ninh trật tự. Công tác phòng chống các tệ nạn xã hội luôn được quan tâm chỉ đạo, trong những năm qua trên địa bàn xã được đảm bảo không phát sinh các tệ nạn xã hội.

II. CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ

1. Công tác xây dựng Đảng được chú trọng, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng được nâng lên.

1.1. Việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII) và Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị.

Thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến” “tự chuyển hóa” trong nội bộ, Đảng ủy đã triển khai nghiêm túc, đúng quy định; xây dựng chương trình hành động sát thực; tổ chức kiểm điểm hàng năm trong Ban Chấp hành, các cấp ủy Chi bộ; tổ chức cho Đảng viên học tập, viết thu hoạnh, kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm, đề ra biện pháp, thời gian khắc phục, qua đó tinh thần trách nhiệm của cán bộ, đảng viên được nâng lên rõ rệt. Sau kiểm điểm tinh thần đoàn kết thống nhất trong đảng bộ được phát huy, khắc phục được những tồn tại thiếu sót, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng bộ.

Việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh được Đảng ủy triển khai thực hiện nghiêm túc, có 89% đảng viên tham gia học tập các chuyên đề; Đảng ủy đã lãnh đạo chuyển từ học tập sang làm theo tạo sự chuyển biến tích cực trong nhận thức và hành động của cán bộ, Đảng viên và nhân dân; góp phần tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống của cán bộ, Đảng viên.

1.2. Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng.

Tổ chức quán triệt, học tập các chủ trương, Nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước được triển khai kịp thời, đầy đủ gắn với xây dựng các chương trình hành động để tổ chức thực hiện, tạo sự đồng thuận, thống nhất trong Đảng bộ và nhân dân, trọng tâm là quán triệt Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp, đại hội Đảng bộ xã lần XXIX, nhất là Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện tự diễn biến” “tự chuyển hóa” trong nội bộ; Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Công tác tuyên truyền, giáo dục, bồi dưỡng chính trị tư tưởng cho cán bộ Đảng viên tập trung vào việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; phát huy có hiệu quả đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền trong công tác tư tưởng; nắm bắt kịp thời tình hình để kịp thời định hướng về tư tưởng, đồng thời đấu tranh phản bác quan điểm sai trái; tập trung sưu tầm, biên soạn cuốn lịch sử đảng bộ xã Thăng Bình.

1.3. Công tác tổ chức cán bộ và đảng viên.

Ngay sau Đại hội Đảng bộ nhiệm kỳ 2015-2020, Đảng ủy đã quy hoạch đội ngũ cán bộ nhiệm kỳ 2020-2025; thường xuyên rà soát, bổ sung quy hoạch; trong nhiệm kỳ đã cử 11 đồng chí đi học, trong đó các lớp Đại học là 6 đồng chí, Trung cấp chính trị là 05 đồng chí; 100% cán bộ lãnh đạo, quản lý, Bí thư chi bộ, Trưởng thôn, cán bộ MTTQ, các đoàn thể, cán bộ chuyên môn được bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ; tổ chức kết nạp đảng được 21 Đảng viên mới; thực hiện bầu bổ sung PCT HĐND, PCT UBND, tiếp nhận đồng chí Bí thư Đảng ủy xã do huyện luân chuyển về nhận nhiệm vụ.

Thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW, Nghị quyết 19-NQ/TW Hội nghị Trung ương 6 (khóa XII); Nghị quyết số 37-NQ/TW của Bộ Chính trị về việc sắp xếp lại các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã, thôn, làng, sáp nhập từ 13 thôn, còn 7 thôn (giảm 6 thôn), sắp xếp lại đội ngũ cán bộ bán chuyên trách cấp thôn, chỉ còn 3 người đảm nhận 6 chức danh; 7/7 chi bộ thôn nhất thể hoá Bí thư kiêm thôn trưởng.

Tập trung nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ theo Chỉ thị số 10 của Ban bí thư TW Đảng (khóa XI); đến nay chất lượng sinh hoạt Đảng, ý thức trách nhiệm của Đảng viên được nâng lên rõ rệt. Công tác đánh giá, phân loại chất lượng Chi bộ và đảng viên hàng năm được thực hiện nghiêm túc, 100% chi bộ hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên; tỷ lệ Đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ luôn đạt trên 65%. Thực hiện tặng và truy tặng huy đảng cho 127 Đảng viên.

1.4. Công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật trong đảng.

Công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng thường xuyên được quan tâm, các vấn đề phát sinh được tập trung giải quyết. Ngay từ đầu nhiệm kỳ, cấp ủy, UBKT Đảng ủy đã xây dựng quy chế hoạt động và chương trình công tác toàn khóa, tổ chức quán triệt đầy đủ các quy định về công tác kiểm tra, giám sát của Đảng cấp trên; thường xuyên kiểm tra các chi bộ về thực hiện nhiệm vụ, chế độ sinh hoạt, việc đóng đảng phí của Đảng viên; kiểm tra đảng viên có dấu hiệu vi phạm, việc thực hiện nghị quyết, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước, trong nhiệm kỳ đã tổ chức 29 cuộc kiểm tra, giám sát, đã xử lý kỷ luật 13 đảng viên với hình thức khiển trách, cảnh cáo; thông qua kiểm tra đã kịp thời uốn nắn những lệch lạc, thiếu sót, góp phần hạn chế thấp nhất đảng viên vi phạm đến mức phải thi hành kỷ luật, giữ vững kỷ cương, kỷ luật, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và đảng viên.

1.5. Công tác dân vận.

Công tác dân vận có nhiều đổi mới, sáng tạo, thiết thực, hiệu quả; Việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở có nhiều chuyển biến tích cực, đảm bảo công khai, minh bạch, huy động đúng quy định và phát huy hiệu quả các nguồn lực trong nhân dân để đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh. Công tác đối thoại trực tiếp của người đứng dầu cấp ủy, chính quyền, MTTQ và các tổ chức chính trị xã hội với nhân dân được thực hiện đúng quy định với nhiều hình thức đa dạng, sâu sát, quyền làm chủ của nhân dân được phát huy, tạo nên sự đồng thuận cao, nhất là trong xây dựng nông thôn mới.

1.6. Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí được quan tâm chỉ đạo

Các cấp ủy đảng, chính quyền từ đến thôn đã triển khai thực hiện nghiêm túc và đẩy mạnh việc tuyên truyền các chủ trương của Đảng, pháp luật của nhà nước về phòng chống tham nhũng, lãng phí; đề cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan, đơn vị trong thực hiện phòng chống tham nhũng, lãng phí; công khai, dân chủ, trong việc thực hiện các cơ chế, chính sách, chương trình, dự án phát triển kinh tế và an sinh xã hội. Tăng cường quản lý nhà nước trên các lĩnh vực dễ phát sinh tiêu cực như: quản lý sử dụng ngân sách, quản lý đất đai, thực hiện chính sách xã hội; chỉ đạo thực hiện việc kê khai tài sản của đội ngũ cán bộ, công chức. Tăng cường kiểm tra, giám sát để kịp thời xử lý các dấu hiệu liên quan đến tham nhũng, lãng phí.

1.7. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng.

Ngay sau Đại hội Đảng bộ lần thứ XXIX, Đảng ủy đã xây dựng quy chế làm việc quy định rõ chức trách, nhiệm vụ, thẩm quyền của tập thể, cá nhân người đứng đầu cấp ủy, chính quyền và các đồng chí ủy viên BCH Đảng bộ; ban hành Chương trình công tác toàn khóa tổ chức thực hiện hàng năm trong nhiệm kỳ. Đảng ủy duy trì tốt chế độ hội nghị hàng tháng, Ban thường vụ duy trì chế độ giao ban hàng tuần, đảm bảo sự lãnh đạo toàn diện của cấp ủy trên các lĩnh vực, thực hiện tốt nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, phát huy tối đa vai trò cá nhân trong lãnh đạo, từ đó đã tạo sự chuyển biến rõ nét trong chỉ đạo, điều hành thực hiện nhiệm vụ đạt hiệu quả cao.

Các Nghị quyết của Đảng bộ, Đảng ủy ban hành đều xuất phát từ điều kiện thực tế của địa phương, có trọng tâm, trọng điểm và có tính khả thi cao. Trong nhiệm kỳ Đảng uy đã ban hành 06 Nghị quyết chuyên đề ở các lĩnh vực gồm, về công tác quốc phòng, an ninh trong tình hình mới; xây dựng xã Nông thôn mới; xây dựng xã đạt tiêu chí xã an toàn thực phẩm; về công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng.

2. Công tác quản lý Nhà nước trên các lĩnh vực được tăng cường, hiệu lực, hiệu quả, điều hành của chính quyền được nâng lên; CCHC được tập trung thực hiện tốt.

2.1. Hoạt động của Hội đồng nhân dân có nhiều đổi mới: hoạt động của Hội đồng nhân dân được đổi mới cả về nội dung và hình thức; thực hiện tốt 2 chức năng là quyết định và giám sát; ban hành nghị quyết sát với tình hình thực tế của địa phương, được nhân dân đồng tình ủng hộ và thực hiện; thường trực HĐND, các Ban của HĐND thường xuyên tổ chức các cuộc giám sát, phối hợp với MTTQ tổ chức tốt các cuộc tiếp xúc cử tri để lăng nghe tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, từ đó lựa chọn những nội dung chất vấn tại kỳ họp, đồng thời đề nghị chính quyền xã và các cấp giải quyết những vấn đề trong nhân dân, qua đó tạo niềm tin với cử tri và nhân dân trong xã.

2.2. Hoạt động của UBND. Công tác quản lý, điều hành của UBND có nhiều đổi mới, luôn bám sát các quy định của pháp luật, nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong quản lý và điều hành trên các lĩnh vực; thực hiện tốt nghị quyết của Đảng HĐND các cấp; đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao trách nhiệm thực thi công vụ của cán bộ, công chức; trong điều hành đảm bảo dân chủ, công khai, kỷ cương; các chủ trương được công khai, cụ thể hóa và vận dụng sáng tạo vào địa phương; giải quyết các công việc của tổ chức và công dân được kịp thời, không gây phiền hà; tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo được tập trung thực hiện. Công tác quản lý xã hội, quản lý đất đai, quản lý ngân sách, quản lý đầu tư xây dựng cơ bản đúng quy định, từ đó tổ chức tốt nhiệm vụ kế hoạch hàng năm.

3. Hoạt động của MTTQ, các đoàn thể từng bước được đổi mới, thiết thực và sát thực tế; khối đại đoàn kết toàn dân ngày các được củng cố.

Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị- xã hội, các hội quần chúng có nhiều đổi mới cả về nội dung và phương thức hoạt động; triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 02-NQ/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội giai đoạn 2015 - 2020. Tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước, các hoạt động nhân đạo, từ thiện,... phát động phong trào, các cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng NTM, đô thị văn minh”, “Ngày vì người nghèo”;Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc”, “Xây dựng gia đình 5 không, 3 sạch”; “Thanh niên khởi nghiệp, lập nghiệp”; thông qua các phong trào và các cuộc vận động đã tập hợp đoàn viên, hội viên vào sinh hoạt, đến nay tỷ lệ tập hợp Đoàn thanh niên đạt 56%; Hội Phụ nữ đạt 70%; Hội Nông dân đạt 75%; Hội Cựu chiến binh đạt 98,7%; Công đoàn đạt 100 %; Công tác giám sát và phản biện xã hội, góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền dần đi vào nề nếp và hiệu quả hơn.

4. Hoạt động của các tổ chức hội.

Nhìn chung các hội đã thực hiện tốt các hoạt động, phong trào, khẳng định được vai trò vị trí của hội, qua đó quy tụ được số lượng hội viên tham gia đông đảo, cập nhật những thông tin mới cho các hội viên trên các lĩnh vực cứu trợ, nhân đạo, y tế, giáo dục, văn hóa nghệ thuật, thể thao.

III. NGUYÊN NHÂN CỦA KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC.

Thứ nhất: Đảng và Nhà nước ban hành nhiều chủ trương, chính sách sát hợp, kịp thời; cải cách hành chính, cải thiện môi trường thu hút đầu tư cho các doanh nghiệp làm chuyển dịch cơ cấu lao động, tạo việc làm tăng thu nhập cho người lao động đã tác động tích cực đến phát triển kinh tế xã hội của địa phương.

Thứ hai: Các cấp ủy, chính quyền đã luôn bám sát các chỉ thị, nghị quyết, chính sách của Đảng và nhà nước, xây dựng chương trình hành động sát với thực tế địa phương; chỉ đạo quyết liệt, có trọng tâm, trong điểm nên đã thu được nhiều kết quả quan trọng.

Thứ ba: Đảng bộ, chính quyền xã luôn tranh thủ sự lãnh đạo, giúp đỡ, tạo điều kiện của huyện; phát huy tốt quyền làm chủ của nhân dân, huy động sức mạnh của toàn dân trong huy động nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng NTM.

Thứ tư: Luôn giữ vững sự đoàn kết trong nội bộ Đảng, sự đồng thuận trong nhân dân; giữ vững ổn định chính trị từ cơ sở, tạo ra không khí phấn khởi, tin tưởng để nhân dân yên tâm đầu tư tổ chức sản xuất, kinh doanh, phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng quê hương.

B. ĐÁNH GIÁ CHUNG

Năm năm qua, trong bối cảnh thuận lợi và khó khăn đan xen, song với truyền thống cách mạng và đoàn kết, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân xã nhà đã có nhiều đổi mới, sáng tạo, không ngừng nỗ lực phấn đấu vươn lên với tinh thần quyết liệt, trách nhiệm cao, đã cơ bản hoàn thành và hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội đảng bộ xã lần thứ XXIX đã đề ra và đạt được những kết quả quan trọng: Kinh tế phát triển khá, đời sống nhân dân được cải thiện và nâng cao, văn hóa -xã hội có nhiều chuyển biến tích cực, Quốc phòng - an ninh, trật tự an toàn xã hội được giữ vững; Công tác xây dựng đảng và hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị được nâng lên, lòng tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng bộ và Chính quyền ngày càng tăng cao, diện mạo nông thôn đang từng bước đổi mới.

ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT

ĐẠI HỘI ĐẢNG BỘ XÃ LẦN THỨ XXIX (Nhiệm kỳ 2015-2020)

Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Thăng Bình thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ XXIX, nhiệm kỳ 2015 – 2020 trong điều kiện chính trị xã hội ổn định; đoàn kết trong Đảng được giữ vững, sự đồng thuận trong nhân dân được tăng cường; nhiều chủ trương, chính sách, cơ chế của Đảng và nhà nước, của tỉnh, huyện được ban hành tạo điều kiện cho xã có thêm nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội. Kinh nghiệm lãnh đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể ngày càng được tích lũy; tuyến đường tỉnh lộ 506 đi qua mở ra nhiều cơ hội cho sự phát triển kinh tế, văn hóa xã hội.

Bên cạnh những thuận lợi, chúng ta gặp khó khăn, thách thức như: thời tiết, lũ lụt, dịch bệnh trên người, trong chăn nuôi xảy ra và diễn biến phức tạp, khó lường, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống và sản xuất của nhân dân; nông nghiệp còn độc canh; ngành nghề công, nghiệp tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ còn nhỏ lẻ, manh mún; xây dựng nông thôn mới còn lại những tiêu chí đòi hỏi nhiều nguồn lực; trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành có việc hiệu quả chưa cao.

Song, được sự quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo của huyện; Đảng bộ, chính quyền và nhân dân trong xã đã đoàn kết, vượt qua khó khăn, bám sát chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước; phát huy sức mạnh của cả thệ thống chính trị, tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ xã lần thứ XXIX đạt kết quả khá toàn diện; có 24/28 chỉ tiêu đạt và vượt kế hoạch. Cụ thể như sau:

A. NHỮNG KẾT QUẢ ĐÃ ĐẠT ĐƯỢC.

I. VỀ KINH TẾ - XÃ HỘI, QUỐC PHÒNG AN NINH.

1. Kinh tế tăng trưởng khá; cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng; kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được tăng cường; xây dựng NTM được tập trung chỉ đạo.

Tổng giá trị sản xuất các ngành kinh tế ước đạt 317,88 tỷ đồng, tăng 1,28 lần chỉ tiêu ĐH. Cơ cấu giá trị sản xuất chuyển dịch theo hướng tích cực: ngành Nông, lâm, thủy sản chiếm 21,6% giảm 18,5% so với năm 2015; Công nghiệp - TTCN và XD chiếm 45,7% tăng 6,8% so với năm 2015; Thương mại - dịch vụ và thu khác chiếm 32,9% tăng 11,7% so với năm 2015; (chỉ tiêu đại hội: NN 27.5 %; CN - XD 32.2 %; TMDV 40.2 %).

Thu nhập bình quân đầu người ước đạt 46 triệu/năm, tăng 2,04 lần so với năm 2015, vượt 1,27% lần chỉ tiêu ĐH

1.1. Sản xuất nông - lâm - thủy sản tăng trưởng khá, giá trị sản xuất ước đạt 68,83 tỷ đồng, tăng 5.89% chỉ tiêu ĐH.

BCH Đảng bộ tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng, đưa các loại giống cây trồng có năng xuất cao, ứng dụng và chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ thuật, đưa cơ giới hóa vào sản xuất; trên địa bàn xã18,3% hệ thống giao thông và 54,03% kênh mương nội đồng được bê tông hóa, 70,1% đường giao thông nội đồng được cứng hóa, đảm bảo phục vụ sản xuất và tưới tiêu; thực hiện tích tụ đất đai để sản xuất quy mô lớn được 4 ha; chuyển đổi 2 ha diện tích đất trồng lúa kém hiệu quả sang cây trồng khác có giá trị kinh tế cao như cây ớt, cây ngô. Năng xuất lúa bình quân hằng năm đạt 60 tạ/ha, đạt chỉ tiêu ĐH, tổng sản lượng lương thực ước đạt 5.165,5 tấn/năm đạt 98,3% mục tiêu đại hội. Giá trị sản xuất ngành trồng trọt ước đạt 53,42 tỷ đồng tăng 4,5 lần so với năm 2015, đạt 82,1 % chỉ tiêu đại hội.

Chăn nuôi tiếp tục phát triển, đến nay đàn trâu, bò 850 con, đạt chỉ tiêu đại hội; đàn lợn 2500 con tăng 500 con so với chỉ tiêu đại hội; đàn gia cầm 110.000 nghìn con, tăng 1,1 lần so với chỉ tiêu đại hội. Giá trị sản xuất ngành chăn nuôi ước đạt 7 tỷ đồng, tăng 1,5 lần so với năm 2015, vượt 16,6 % chỉ tiêu đại hội.

Nuôi trồng thủy sản tiếp tục được quan tâm, tổng diện tích 10 ha nuôi cá, kết hợp đánh bắt tự nhiên mỗi năm ước đạt 130 tấn, giá trị ước đạt 7,15 tỷ đồng.

Làm tốt công tác bảo vệ rừng, duy trì quản lý tốt 186,38 ha rừng, tỷ lệ che phủ rừng đạt 15,76% (100%); gắn phát triển rừng với phát triển cây công nghiệp, cây ăn quả và phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm.

1.2. Tiểu thủ công nghiệp và XDCB tăng trưởng mạnh, giá trị ước đạt 145,23 tỷ đồng, tăng 52,3% chỉ tiêu ĐH.

Tiểu thủ công nghiệp: Được duy trì và có bước tăng trưởng khá, phát triển đa dạng, ngành nghề như: đan đèn lồng xuất khẩu, cơ khí, mộc dân dụng, sản xuất vật liệu xây dựng, gò hàn giải quyết việc làm cho khoảng 295 lao động, nâng cao thu nhập và ổn định đời sống cho nhân dân.

Xây dựng cơ bản: Được tập trung vào các công trình hạ tầng kỹ thuật, giao thông như: xây dựng nhà lớp học, sửa chữa bếp ăn, lát sân và các công trình phụ trợ khác trường Mầm non; các công trình phụ trợ của trường Tiểu học và THCS; xây dựng kênh mương tuyến Đồng bái đi thôn Lý Đông và N13 đi thôn Mỹ Giang. Tổng vốn đầu tư xây dựng 8,5 tỷ đồng, trong đó nguồn vốn của tỉnh, huyện 2,4 tỷ đồng, vốn ngân sách xã 4,3 tỷ đồng, vốn huy động đóng góp khu dân cư và từ các tổ chức cá nhân khác 1,8 tỷ đồng; lắp thêm 03 trạm biến áp, đường dây truyền tải điện.

1.3. Hoạt động dịch vụ thương mại và thu khác, ước đạt 103,82 tỷ đồng, tăng 9,28% chỉ tiêu ĐH, gấp 2 lần so với năm 2015.

Các hoạt động dịch vụ thương mại, vận tải phát triển mạnh, toàn xã có 310 hộ sản xuất, kinh doanh. Số lao động được giải quyết việc làm mới hàng năm đạt trên 120 người/năm, vượt 1,2 % so với chỉ tiêu Đại hội, số lao động xuất khẩu đi các nước 90 người có mức thu nhập bình quân 25 đến 30 triệu đồng/người/tháng, số lao động đi làm các ngành nghề ngoài địa phương khoảng 1.862 người, có mức thu nhập từ 5,5 đến 6 triệu đồng/ tháng; Dịch vụ bưu chính viễn thông phát triển đến hầu hết các khu dân cư đáp ứng nhu cầu thông tin của nhân dân, đến nay 100 % số hộ có phương tiện nghe, nhìn, 60% hộ có mạng Intenert. Hệ thống điện đảm bảo chất lượng trong phục vụ sinh hoạt, sản xuất và kinh doanh của nhân dân.

Thu, chi ngân sách trên địa bàn được tổ chức thực hiện hiệu quả, đảm bảo đúng quy định, đáp ứng nhu cầu hoạt động thườngxuyên và đầu tư hạ tầng xây dựng nông thôn mới. Tổng thu ngân sách giai đoạn 2015 – 2019, tăng gấp 1,8 lần so với giai đoạn 2010 – 2015.

Hoạt động của các tổ chức tín dụng mang lại nhiều hiệu quả, đáp ứng nguồn vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh của các hộ dân và doanh nghiệp, đến nay tổng dư nợ là 37 tỷ đồng. Trong đó: ngân hàng CSXH 11,5 tỷ đồng, ngân hàng thương mại là 23,4 tỷ đồng; tài chính vi mô: 2,1 tỷ đồng.

1.4. Công tác quy hoạch, quản lý đất đai và bảo vệ môi trường.

Công tác quy hoạch, quản lý quy hoạch quản lý tài nguyên, đất đai được quan tâm chỉ đạo thực hiện; lập quy hoạch phát triển khu dân cư mới được thực hiện đúng quy định của pháp luật, tình trạng lấn chiếm đất đai được xử lý kịp thời. Thực hiện tốt việc cấp giấy chứng nhận QSD đất cho nhân dân, tỉ lệ cấp mới đạt 88%, cấp đổi đạt 60%.

Công tác quản lý về môi trường được tăng cường, 100% hộ dân thực hiện thu gom và được vận chuyển về bãi rác Hồ Mơ xử lý; thường xuyên tổ chức phát động phong trào trồng cây xanh tại các trường học, trồng hoa bên các tuyến đường thôn, đường xã; 90% hộ có nhà tiêu hợp vệ sinh; 100% hộ được dùng nước hợp vệ sinh.

1.5. Các thành phần kinh tế góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế, đảm bảo ổn định xã hội.

Hoạt động của các thành phần kinh tế đã góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế, toàn xã có 02 doanh nghiệp đang hoạt động, tăng 01 doanh nghiệp so với năm 2015, đạt 40% so với chỉ tiêu Đại hội;310 hộ sản xuất kinh doanh cá thể; 01 HTX dịch vụ Nông Nghiệp; trên địa bàn xã có 02 trang trại, 15 gia trại chăn nuôi gia súc, gia cầm tăng 2,5 lần so với năm 2015

1.6. Xây dựng nông thôn mới, xây dựng xã đạt tiêu chí xã an toàn thực phẩm.

Thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, Đảng bộ đã ban hành nghị quyết để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo; tổ chức thực hiện có hiệu quả Pháp lệnh số 34, tranh thủ tối đa sự lãnh đạo, hỗ trợ của huyện, tỉnh, phấn đấu năm 2020 hoàn thành 19/19 tiêu chí NTM.

Thực hiện Nghị quyết số 04-NQ/TU của BCH Đảng bộ tỉnh, Quyết định số 347/QĐ-UBND của UBND huyện về Kế họach xây dựng xã, thị trấn đạt tiêu chí an toàn thực phẩm đến năm 2020, BCH đã tập trung chỉ đạo tổ chức triển khai thực hiện, làm tốt công tác tuyên truyền với nhiều hình thức, nhằm phổ biến kiến thức về vệ sinh an toàn thực phẩm cho nhân dân, hướng dẫn các hộ sản xuất, kinh doanh thực hiện các quy định về xác nhận nguồn gốc xuất sứ hàng hóa, trong quá trình thực hiện được nhân dân đồng tình hưởng ứng, phấn đấu năm 2020 xã được công nhận đạt tiêu chí an toàn thực phẩm.

2. Văn hóa - xã hội có nhiều chuyển biến tích cực, các chính sách an sinh xã hội được quan tâm, đời sống vật chất tinh thần của nhân dân được nâng lên.

2.1. Hoạt động văn hóa, thông tin, tuyên truyền - thể dục thể thao.

Công tác thông tin, tuyên truyền luôn được quan tâm, tập trung tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các ngày lễ lớn, ngày kỷ niệm và các nhiệm vụ trọng tâm của địa phương đến với nhân dân.

Triển khai vận động nhân dân hưởng ứng thực hiện tốt phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh ", đến nay 5/7 làng được công nhận làng văn hóa, 3/3 trường được công nhận trường học có đời sống văn hóa tốt, tỷ lệ gia đình đạt danh hiệu gia đình văn hóa đạt 90%, tăng 5% so với chỉ tiêu đại hội. Thực hiện tốt nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội và một số nghi lễ ở cộng đồng dân cư theo tinh thần Nghị quyết 07-NQ/HU của BCH đảng bộ huyện. Làm tốt công tác quản lý lễ hội trên địa bàn.

Phong trào TDTT quần chúng được tổ chức thường xuyên và sâu rộng như: bóng chuyền, cầu lông, bóng bàn. Số người thường xuyên tham gia luyện tập TDTT đạt trên 45%. Các hoạt động văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao, lễ hội hàng năm đều được duy trì và đổi mới đảm bảo vui tươi an toàn tiết kiệm.

2.2. Về giáo dục và đào tạo.

Trong nhiệm kỳ qua Đảng bộ và nhân dân đã tập trung nguồn lực đầu tư cơ sở vật chất các trường, đến nay 2/3 trường đạt chuẩn quốc gia, trong đó trường Tiểu học được công nhận chuẩn mức độ II, kiểm định chất lượng mức độ 3, đạt đơn vị kiểu mẫu. Chất lượng giáo dục toàn diện và giáo dục mũi nhọn hàng năm được nâng cao, trường Tiểu học và THCS đều có học sinh, giáo viên đạt các giải Quốc gia, giải tỉnh, giải huyện; phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi 100%; hoàn thành phổ cập giáo dục Tiểu học, THCS; tỷ lệ tốt nghiệp THCS đạt 100 %; có 154 em học sinh đậu vào các trường Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp.

Công tác khuyến học từ xã đến thôn được quan tâm, xây dựng quỹ khuyến học được 366 triệu đồng để động viên con em tích cực học tập. Trung tâm học tập cộng đồng hàng năm tổ chức nhiều lớp chuyển giao khoa học kỹ thuật, tuyên truyền phổ biến pháp luật đến với cán bộ và nhân dân, được công nhận Danh hiệu học tập cộng đồng cấp xã, hoàn thành chỉ tiêu đại hội, từng bước thực hiện tốt chủ trương xây dựng xã hội học tập.

2.3. Công tác y tế và dân số kế hoạch hóa gia đình.

Thực hiện tốt công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân, phòng chống dịch bệnh. Thực hiện tốt các chương trình y tế quốc gia về tiêm chủng mở rộng, 100 % trẻ em trong độ tuổi được uống vitaminA và tiêm đầy đủ các loại vác xin thuộc chương trình tiêm chủng. Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng thể cân nặng 11,2 %, suy dinh dưỡng thể thấp còi 19,9 %. Tỷ lệ người dân tham gia BHYT đạt 79%. Phối hợp thực hiện tốt công tác kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh môi trường và vệ sinh phòng dịch. Xã được công nhận xã đạt bộ tiêu chí quốc gia về y tế. Công tác dân số kế hoạch hóa gia đình được chú trọng, tích cực tuyên truyền về dân số, sức khỏe sinh sản, thực hiện chính sách KHHGĐ, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên bình quân là 0,7%.

2.4. Việc thực hiện chính sách an sinh xã hội, giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo

Các chế độ chính sách cho người có công, gia đình chính sách, đối tượng bảo trợ xã hội, được thực hiện đầy đủ, kịp thời, không để sai sót; các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, nhân đạo, từ thiện được quan tâm và thực hiện kịp thời. Thực hiện chế độ chính sách theo Quyết định số 49/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ cho 546/636 đối tượng đã được hưởng chế độ; Quyết định số 22/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về hỗ trợ người có công sửa chữa, làm mới nhà ở cho 36 hộ, với số tiền là 1.040 tỷ đồng, hoàn thành 100% số đối tượng thuộc diện hỗ trợ; Quyết định 62/2011/QĐ-TTg cho 9 hồ sơ, 4 hồ sơ đã nhận quyết định trợ cấp 1 lần với tổng kinh phí là 21,5 triệu đồng.

Công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo luôn được quan tâm, trong 5 năm đã mở được 05 lớp đào tạo nghề cho hơn 200 lượt người, cử 25 lượt người tham gia các lớp đào tạo, bồi dưỡng kiến thức quản lý doanh nghiệp; đã tạo việc làm mới, ổn định cho 600 lao động; cùng với 1.952 lao động đi làm ăn xa, trong đó có 90 lao động ở nước ngoài; tiếp nhận triển khai dự án, các nguồn hỗ trợ đã góp phần xóa đói, giảm nghèo, tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 6,5% năm 2015 xuống còn 2,5% năm 2020.

3. Công tác quốc phòng được tăng cường; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo.

Công tác quốc phòng luôn được quan tâm, hằng năm triển khai thực hiện tốt nhiệm vụ quốc phòng, xây dựng kế hoạch nhiệm vụ quân sự địa phương, tổ chức thực hiện tốt công tác huấn luyện, diễn tập theo quy định; rà soát, nắm chắc quân số, xây dựng kế hoạch tuyển quân hàng năm, gọi khám tuyển nghĩa vụ quân sự công khai, đúng đối tượng, trong 5 năm đã có 49 thanh niên lên đường nhập ngũ, hoàn thành 100% chỉ tiêu; thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội.

Tập trung lãnh đạo công tác an ninh trật tự, Ban chỉ đạo ANTT xã hoạt động có hiệu quả, huy động được sức mạnh của hệ thống chính trị tham gia công tác bảo đảm an ninh trật tự. Lực lượng công an xã, tổ an ninh trật tự thường xuyên tuần tra, kiểm tra, nắm chắc tình hình an ninh trật tự, tư tưởng trong nhân dân, thường xuyên thông tin đến người dân các hành vi, hình thức của các loại tội phạm trộm cắp để phòng ngừa. Các vụ việc xảy ra trên địa bàn đều được tập trung giải quyết dứt điểm không có vụ việc tồn đọng, không có vụ án đặc biệt nghiêm trọng xảy ra; 7/7 thôn được công nhận đạt tiêu chuẩn về an ninh trật tự. Công tác phòng chống các tệ nạn xã hội luôn được quan tâm chỉ đạo, trong những năm qua trên địa bàn xã được đảm bảo không phát sinh các tệ nạn xã hội.

II. CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ

1. Công tác xây dựng Đảng được chú trọng, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng được nâng lên.

1.1. Việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII) và Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị.

Thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến” “tự chuyển hóa” trong nội bộ, Đảng ủy đã triển khai nghiêm túc, đúng quy định; xây dựng chương trình hành động sát thực; tổ chức kiểm điểm hàng năm trong Ban Chấp hành, các cấp ủy Chi bộ; tổ chức cho Đảng viên học tập, viết thu hoạnh, kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm, đề ra biện pháp, thời gian khắc phục, qua đó tinh thần trách nhiệm của cán bộ, đảng viên được nâng lên rõ rệt. Sau kiểm điểm tinh thần đoàn kết thống nhất trong đảng bộ được phát huy, khắc phục được những tồn tại thiếu sót, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng bộ.

Việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh được Đảng ủy triển khai thực hiện nghiêm túc, có 89% đảng viên tham gia học tập các chuyên đề; Đảng ủy đã lãnh đạo chuyển từ học tập sang làm theo tạo sự chuyển biến tích cực trong nhận thức và hành động của cán bộ, Đảng viên và nhân dân; góp phần tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống của cán bộ, Đảng viên.

1.2. Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng.

Tổ chức quán triệt, học tập các chủ trương, Nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước được triển khai kịp thời, đầy đủ gắn với xây dựng các chương trình hành động để tổ chức thực hiện, tạo sự đồng thuận, thống nhất trong Đảng bộ và nhân dân, trọng tâm là quán triệt Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp, đại hội Đảng bộ xã lần XXIX, nhất là Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện tự diễn biến” “tự chuyển hóa” trong nội bộ; Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Công tác tuyên truyền, giáo dục, bồi dưỡng chính trị tư tưởng cho cán bộ Đảng viên tập trung vào việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; phát huy có hiệu quả đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền trong công tác tư tưởng; nắm bắt kịp thời tình hình để kịp thời định hướng về tư tưởng, đồng thời đấu tranh phản bác quan điểm sai trái; tập trung sưu tầm, biên soạn cuốn lịch sử đảng bộ xã Thăng Bình.

1.3. Công tác tổ chức cán bộ và đảng viên.

Ngay sau Đại hội Đảng bộ nhiệm kỳ 2015-2020, Đảng ủy đã quy hoạch đội ngũ cán bộ nhiệm kỳ 2020-2025; thường xuyên rà soát, bổ sung quy hoạch; trong nhiệm kỳ đã cử 11 đồng chí đi học, trong đó các lớp Đại học là 6 đồng chí, Trung cấp chính trị là 05 đồng chí; 100% cán bộ lãnh đạo, quản lý, Bí thư chi bộ, Trưởng thôn, cán bộ MTTQ, các đoàn thể, cán bộ chuyên môn được bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ; tổ chức kết nạp đảng được 21 Đảng viên mới; thực hiện bầu bổ sung PCT HĐND, PCT UBND, tiếp nhận đồng chí Bí thư Đảng ủy xã do huyện luân chuyển về nhận nhiệm vụ.

Thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW, Nghị quyết 19-NQ/TW Hội nghị Trung ương 6 (khóa XII); Nghị quyết số 37-NQ/TW của Bộ Chính trị về việc sắp xếp lại các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã, thôn, làng, sáp nhập từ 13 thôn, còn 7 thôn (giảm 6 thôn), sắp xếp lại đội ngũ cán bộ bán chuyên trách cấp thôn, chỉ còn 3 người đảm nhận 6 chức danh; 7/7 chi bộ thôn nhất thể hoá Bí thư kiêm thôn trưởng.

Tập trung nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ theo Chỉ thị số 10 của Ban bí thư TW Đảng (khóa XI); đến nay chất lượng sinh hoạt Đảng, ý thức trách nhiệm của Đảng viên được nâng lên rõ rệt. Công tác đánh giá, phân loại chất lượng Chi bộ và đảng viên hàng năm được thực hiện nghiêm túc, 100% chi bộ hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên; tỷ lệ Đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ luôn đạt trên 65%. Thực hiện tặng và truy tặng huy đảng cho 127 Đảng viên.

1.4. Công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật trong đảng.

Công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng thường xuyên được quan tâm, các vấn đề phát sinh được tập trung giải quyết. Ngay từ đầu nhiệm kỳ, cấp ủy, UBKT Đảng ủy đã xây dựng quy chế hoạt động và chương trình công tác toàn khóa, tổ chức quán triệt đầy đủ các quy định về công tác kiểm tra, giám sát của Đảng cấp trên; thường xuyên kiểm tra các chi bộ về thực hiện nhiệm vụ, chế độ sinh hoạt, việc đóng đảng phí của Đảng viên; kiểm tra đảng viên có dấu hiệu vi phạm, việc thực hiện nghị quyết, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước, trong nhiệm kỳ đã tổ chức 29 cuộc kiểm tra, giám sát, đã xử lý kỷ luật 13 đảng viên với hình thức khiển trách, cảnh cáo; thông qua kiểm tra đã kịp thời uốn nắn những lệch lạc, thiếu sót, góp phần hạn chế thấp nhất đảng viên vi phạm đến mức phải thi hành kỷ luật, giữ vững kỷ cương, kỷ luật, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và đảng viên.

1.5. Công tác dân vận.

Công tác dân vận có nhiều đổi mới, sáng tạo, thiết thực, hiệu quả; Việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở có nhiều chuyển biến tích cực, đảm bảo công khai, minh bạch, huy động đúng quy định và phát huy hiệu quả các nguồn lực trong nhân dân để đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh. Công tác đối thoại trực tiếp của người đứng dầu cấp ủy, chính quyền, MTTQ và các tổ chức chính trị xã hội với nhân dân được thực hiện đúng quy định với nhiều hình thức đa dạng, sâu sát, quyền làm chủ của nhân dân được phát huy, tạo nên sự đồng thuận cao, nhất là trong xây dựng nông thôn mới.

1.6. Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí được quan tâm chỉ đạo

Các cấp ủy đảng, chính quyền từ đến thôn đã triển khai thực hiện nghiêm túc và đẩy mạnh việc tuyên truyền các chủ trương của Đảng, pháp luật của nhà nước về phòng chống tham nhũng, lãng phí; đề cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan, đơn vị trong thực hiện phòng chống tham nhũng, lãng phí; công khai, dân chủ, trong việc thực hiện các cơ chế, chính sách, chương trình, dự án phát triển kinh tế và an sinh xã hội. Tăng cường quản lý nhà nước trên các lĩnh vực dễ phát sinh tiêu cực như: quản lý sử dụng ngân sách, quản lý đất đai, thực hiện chính sách xã hội; chỉ đạo thực hiện việc kê khai tài sản của đội ngũ cán bộ, công chức. Tăng cường kiểm tra, giám sát để kịp thời xử lý các dấu hiệu liên quan đến tham nhũng, lãng phí.

1.7. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng.

Ngay sau Đại hội Đảng bộ lần thứ XXIX, Đảng ủy đã xây dựng quy chế làm việc quy định rõ chức trách, nhiệm vụ, thẩm quyền của tập thể, cá nhân người đứng đầu cấp ủy, chính quyền và các đồng chí ủy viên BCH Đảng bộ; ban hành Chương trình công tác toàn khóa tổ chức thực hiện hàng năm trong nhiệm kỳ. Đảng ủy duy trì tốt chế độ hội nghị hàng tháng, Ban thường vụ duy trì chế độ giao ban hàng tuần, đảm bảo sự lãnh đạo toàn diện của cấp ủy trên các lĩnh vực, thực hiện tốt nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, phát huy tối đa vai trò cá nhân trong lãnh đạo, từ đó đã tạo sự chuyển biến rõ nét trong chỉ đạo, điều hành thực hiện nhiệm vụ đạt hiệu quả cao.

Các Nghị quyết của Đảng bộ, Đảng ủy ban hành đều xuất phát từ điều kiện thực tế của địa phương, có trọng tâm, trọng điểm và có tính khả thi cao. Trong nhiệm kỳ Đảng uy đã ban hành 06 Nghị quyết chuyên đề ở các lĩnh vực gồm, về công tác quốc phòng, an ninh trong tình hình mới; xây dựng xã Nông thôn mới; xây dựng xã đạt tiêu chí xã an toàn thực phẩm; về công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng.

2. Công tác quản lý Nhà nước trên các lĩnh vực được tăng cường, hiệu lực, hiệu quả, điều hành của chính quyền được nâng lên; CCHC được tập trung thực hiện tốt.

2.1. Hoạt động của Hội đồng nhân dân có nhiều đổi mới: hoạt động của Hội đồng nhân dân được đổi mới cả về nội dung và hình thức; thực hiện tốt 2 chức năng là quyết định và giám sát; ban hành nghị quyết sát với tình hình thực tế của địa phương, được nhân dân đồng tình ủng hộ và thực hiện; thường trực HĐND, các Ban của HĐND thường xuyên tổ chức các cuộc giám sát, phối hợp với MTTQ tổ chức tốt các cuộc tiếp xúc cử tri để lăng nghe tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, từ đó lựa chọn những nội dung chất vấn tại kỳ họp, đồng thời đề nghị chính quyền xã và các cấp giải quyết những vấn đề trong nhân dân, qua đó tạo niềm tin với cử tri và nhân dân trong xã.

2.2. Hoạt động của UBND. Công tác quản lý, điều hành của UBND có nhiều đổi mới, luôn bám sát các quy định của pháp luật, nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong quản lý và điều hành trên các lĩnh vực; thực hiện tốt nghị quyết của Đảng HĐND các cấp; đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao trách nhiệm thực thi công vụ của cán bộ, công chức; trong điều hành đảm bảo dân chủ, công khai, kỷ cương; các chủ trương được công khai, cụ thể hóa và vận dụng sáng tạo vào địa phương; giải quyết các công việc của tổ chức và công dân được kịp thời, không gây phiền hà; tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo được tập trung thực hiện. Công tác quản lý xã hội, quản lý đất đai, quản lý ngân sách, quản lý đầu tư xây dựng cơ bản đúng quy định, từ đó tổ chức tốt nhiệm vụ kế hoạch hàng năm.

3. Hoạt động của MTTQ, các đoàn thể từng bước được đổi mới, thiết thực và sát thực tế; khối đại đoàn kết toàn dân ngày các được củng cố.

Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị- xã hội, các hội quần chúng có nhiều đổi mới cả về nội dung và phương thức hoạt động; triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 02-NQ/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội giai đoạn 2015 - 2020. Tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước, các hoạt động nhân đạo, từ thiện,... phát động phong trào, các cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng NTM, đô thị văn minh”, “Ngày vì người nghèo”;Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc”, “Xây dựng gia đình 5 không, 3 sạch”; “Thanh niên khởi nghiệp, lập nghiệp”; thông qua các phong trào và các cuộc vận động đã tập hợp đoàn viên, hội viên vào sinh hoạt, đến nay tỷ lệ tập hợp Đoàn thanh niên đạt 56%; Hội Phụ nữ đạt 70%; Hội Nông dân đạt 75%; Hội Cựu chiến binh đạt 98,7%; Công đoàn đạt 100 %; Công tác giám sát và phản biện xã hội, góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền dần đi vào nề nếp và hiệu quả hơn.

4. Hoạt động của các tổ chức hội.

Nhìn chung các hội đã thực hiện tốt các hoạt động, phong trào, khẳng định được vai trò vị trí của hội, qua đó quy tụ được số lượng hội viên tham gia đông đảo, cập nhật những thông tin mới cho các hội viên trên các lĩnh vực cứu trợ, nhân đạo, y tế, giáo dục, văn hóa nghệ thuật, thể thao.

III. NGUYÊN NHÂN CỦA KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC.

Thứ nhất: Đảng và Nhà nước ban hành nhiều chủ trương, chính sách sát hợp, kịp thời; cải cách hành chính, cải thiện môi trường thu hút đầu tư cho các doanh nghiệp làm chuyển dịch cơ cấu lao động, tạo việc làm tăng thu nhập cho người lao động đã tác động tích cực đến phát triển kinh tế xã hội của địa phương.

Thứ hai: Các cấp ủy, chính quyền đã luôn bám sát các chỉ thị, nghị quyết, chính sách của Đảng và nhà nước, xây dựng chương trình hành động sát với thực tế địa phương; chỉ đạo quyết liệt, có trọng tâm, trong điểm nên đã thu được nhiều kết quả quan trọng.

Thứ ba: Đảng bộ, chính quyền xã luôn tranh thủ sự lãnh đạo, giúp đỡ, tạo điều kiện của huyện; phát huy tốt quyền làm chủ của nhân dân, huy động sức mạnh của toàn dân trong huy động nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng NTM.

Thứ tư: Luôn giữ vững sự đoàn kết trong nội bộ Đảng, sự đồng thuận trong nhân dân; giữ vững ổn định chính trị từ cơ sở, tạo ra không khí phấn khởi, tin tưởng để nhân dân yên tâm đầu tư tổ chức sản xuất, kinh doanh, phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng quê hương.

B. ĐÁNH GIÁ CHUNG

Năm năm qua, trong bối cảnh thuận lợi và khó khăn đan xen, song với truyền thống cách mạng và đoàn kết, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân xã nhà đã có nhiều đổi mới, sáng tạo, không ngừng nỗ lực phấn đấu vươn lên với tinh thần quyết liệt, trách nhiệm cao, đã cơ bản hoàn thành và hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội đảng bộ xã lần thứ XXIX đã đề ra và đạt được những kết quả quan trọng: Kinh tế phát triển khá, đời sống nhân dân được cải thiện và nâng cao, văn hóa -xã hội có nhiều chuyển biến tích cực, Quốc phòng - an ninh, trật tự an toàn xã hội được giữ vững; Công tác xây dựng đảng và hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị được nâng lên, lòng tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng bộ và Chính quyền ngày càng tăng cao, diện mạo nông thôn đang từng bước đổi mới.